Thống kê truy cập
  • Đang online: 35
  • Hôm nay: 4,223
  • Trong tuần: 20,301
  • Tất cả: 13,224,623
Lượt xem: 5058

Báo cáo tổng kết đánh giá kết quả hoạt động ủy thác cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác Giai đoạn 2015-2020

Căn cứ Điều 5 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ quy định “Việc cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội được thực hiện theo phương thức uỷ thác cho các tổ chức tín dụng, tổ chức chính trị - xã hội theo hợp đồng uỷ thác hoặc trực tiếp cho vay đến người vay”; Thực hiện văn bản thỏa thuận số 3948/VBLT-NHCS-HPN-HND-HCCB-ĐTNCSHCM ngày 03/12/2014 ngày giữa Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) và 04 tổ chức chính trị xã hội về việc thực hiện uỷ thác cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Chi nhánh NHCSXH và các Hội đoàn thể tỉnh đã ký Văn bản liên tịch số 920/ VBLT-NHCS-HPN-HND-HCCB-ĐTNCSHCM ngày 16/12/2014. 05 năm qua, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, tạo điều kiện giúp đỡ của chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ của NHCSXH và các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác ở các cấp, sự đồng thuận tham gia của người nghèo và các đối tượng chính sách khác, cùng với sự nỗ lực triển khai, thực hiện của các cấp Hội, công tác ủy thác cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác của các tổ chức chính trị - xã hội đã đạt được những kết quả quan trọng góp phần cùng với NHCSXH và chính quyền địa phương thực hiện tốt chương trình quốc gia về giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh trật tự xã hội và xây dựng nông thôn mới.

I. SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN

1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội

Nam Định là một tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ với diện tích tự nhiên 1.669 km2, có 10 huyện, thành phố, dân số 2.031.462 người với 610.597 hộ dân, tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, chiếm trên 80%.

Trong những năm gần đây tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục ổn định, phát triển. Các cấp, ngành, địa phương, tổ chức đoàn thể xã hội và doanh nghiệp đã tích cực triển khai đồng bộ các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo đúng chỉ đạo của Chính phủ. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, công tác an sinh xã hội đối với người có công, gia đình chính sách, hộ nghèo được thực hiện tốt, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm: Đầu năm 2016, toàn tỉnh có 33.864 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 5,7%; 36.474 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 6,13%. Đến cuối năm 2019, toàn tỉnh còn 9.443 hộ nghèo (giảm 24.421 hộ), chiếm tỷ lệ 1,53% (giảm 4,17%), hộ cận nghèo 37.609 hộ (tăng 1.135 hộ), chiếm tỷ lệ 6,09% (giảm 0,04%).

Các chính sách, Chương trình, dự án hỗ trợ giảm nghèo đã được triển khai thực hiện tốt, tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo phát triển sản xuất kinh doanh, ổn định đời sống, vươn lên thoát nghèo bền vững. Trong giai đoạn 2016-2020, đã có 31.795 hộ thoát nghèo và 72.470 hộ thoát cận nghèo. Tỷ lệ tái nghèo thấp, trong giai đoạn chỉ có 3.639 hộ tái nghèo và 6.459 hộ tái cận nghèo.

Kết quả trên có sự đóng góp tích cực của NHCSXH trong việc phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác triển khai thực hiện tốt các chương trình tín dụng chính sách xã hội đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.

2. Tình hình chung về hoạt động ủy thác

Để chuyển tải vốn tín dụng chính sách đúng đối tượng thụ hưởng, đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng, hỗ trợ tối đa cho người nghèo trong điều kiện tiết giảm chi phí quản lý, chi phí xã hội,... NHCSXH đã thực hiện phương thức quản lý tín dụng chính sách đặc thù thông qua hình thức: (i) Phân công, phân cấp trách nhiệm trong việc xác định hộ nghèo và các đối tượng chính sách đủ điều kiện vay vốn; (ii) Thực hiện dân chủ, công khai trong cộng đồng dân cư; (iii) Kết hợp sự tham gia của 04 tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác với vai trò giám sát xã hội và làm uỷ thác một số nội dung công việc trong quy trình nghiệp vụ tín dụng chính sách.

Thực hiện văn bản liên tịch và Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư TW, những năm qua các tổ chức CT-XH nhận ủy thác đã thực hiện tốt các nội dung ủy thác góp phần cùng NHCSXH triển khai các chương trình tín dụng chính sách đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, nguồn vốn tín dụng chính sách được giải ngân nhanh chóng, kịp thời, đến đúng đối tượng thụ hưởng, chất lượng tín dụng chính sách ngày càng được nâng lên; xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất, kinh doanh điển hình giúp nhau vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng giúp cho đồng vốn tín dụng chính sách phát huy hiệu quả cao. Qua đó tiếp tục khẳng định, đây là hướng đi đúng đắn, giúp cho việc chuyển tải nguồn vốn tín dụng ưu đãi đến đúng đối tượng thụ hưởng kịp thời, hiệu quả; đồng thời huy động được sức mạnh của cộng đồng và toàn xã hội cùng chung tay giúp người nghèo và các đối tượng chính sách khác, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG ỦY THÁC THEO VĂN BẢN THỎA THUẬN 3948/VBLT:

 

1. Kết quả hoạt động uỷ thác:

 

1.1. Về dư nợ và chất lượng tín dụng ủy thác

Trong 05 năm qua, NHCSXH và các Hội đoàn thể nhận ủy thác đã giải ngân cho 160.929 lượt khách hàng với số tiền 4.392,3 tỷ đồng. Dư nợ nhận ủy thác của các Hội đoàn thể liên tục tăng cả về khối lượng tín dụng và số lượng các chương trình tín dụng. Tại thời điểm 31/12/2014 dư nợ đạt 2.026,6 tỷ đồng với 07 chương trình, nhưng đến 31/12/2019 dư nợ đạt 3.042,7 tỷ đồng, tăng 1.016,1 tỷ đồng (tăng 50,1% so với cuối năm 2014) với 09 chương trình tín dụng, chiếm tỷ trọng 99,8% tổng dư nợ NHCSXH. Mức tăng trưởng dư nợ bình quân đạt 10,02%/năm, tương ứng số tiền dư nợ tăng bình quân hàng năm là 203,22 tỷ đồng. Trong đó: Dư nợ ủy thác qua Hội Nông dân 1.170,4 tỷ đồng (chiếm 38,46%), tăng 374,4 tỷ đồng; Hội Phụ nữ 1.349,9 tỷ đồng (chiếm 44,36%), tăng 467,9 tỷ đồng; Hội CCB 351 tỷ đồng (chiếm 11,54%), tăng 104,5 tỷ đồng; Đoàn Thanh niên 171,4 tỷ đồng (chiếm 5,63%), tăng 69,3 tỷ đồng.

Bên cạnh việc tích cực cho vay các chương trình, NHCSXH và các tổ chức CT-XH nhận ủy thác đã phối hợp triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác nâng cao chất lượng tín dụng. Đặc biệt, việc quản lý nợ và thu hồi nợ quá hạn được Hội đoàn thể các cấp rất coi trọng, thường xuyên theo dõi và chỉ đạo Tổ TK&VV thông báo sớm nợ đến hạn cho hộ vay nên tỷ lệ thu hồi nợ đến hạn hàng năm đạt cao (trên 90%), đối với các món nợ quá hạn tích cực phối hợp với NHCSXH và chính quyền cơ sở phân loại, đôn đốc thu nên chất lượng tín dụng ngày càng được nâng lên, tỷ lệ quá hạn giảm qua từng năm. Tại thời điểm 31/12/2014 nợ quá hạn là 4.011,7 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 0,198% dư nợ, nhưng đến thời điểm 31/12/2019 nợ quá hạn chỉ còn 2.466,3 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 0,081% dư nợ ủy thác, giảm 1.545,5 triệu đồng, tỷ lệ giảm 0,117%. Trong đó: Hội Nông dân 1.047,9 triệu đồng, giảm 434,1 triệu đồng; Hội Phụ nữ 952,6 triệu đồng, giảm 506,6 triệu đồng; Hội CCB 292,8 triệu đồng, giảm 520,3 triệu đồng; Đoàn Thanh niên 172,9 triệu đồng, giảm 84,6 triệu đồng.

1.2.  Về kết quả hoạt động của Tổ Tiết kiệm và vay vốn:

Tổ Tiết kiệm và vay vốn là thành tố có vị trí quan trọng đặc biệt trong quy trình cho vay vốn của NHCSXH. Vì Tổ TK&VV là nơi người nghèo và các đối tượng chính sách khác được trực tiếp nghe tuyên truyền về chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ, nơi diễn ra hoạt động bình xét cho vay, giám sát, hướng dẫn người vay sử dụng vốn đúng mục đích. Tổ TK&VV hoạt động hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế được những tiêu cực nảy sinh.

05 năm qua, Hội đoàn thể nhận ủy thác các cấp đã phối hợp chặt chẽ với NHCSXH và chính quyền địa phương thường xuyên tiến hành sắp xếp củng cố, kiện toàn nâng cao chất lượng hoạt động của các Tổ TK&VV. Đến 31/12/2019, các Hội đoàn thể quản lý 3.366 tổ TK&VV với 102.580 hộ vay. Trong đó: Hội ND quản lý 1.360 tổ; Hội PN: 1.407 tổ; Hội CCB: 410 tổ; Đoàn TN: 189 tổ. Quy mô Tổ TK&VV ngày càng được nâng lên hợp lý hơn, bình quân một tổ quản lý 30 hộ, dư nợ 903,9 triệu đồng, so với 31/12/2014 số dư nợ tăng 363,5 triệu đồng /tổ.

Nhìn chung, các Tổ TK&VV đã làm khá tốt các khâu bình xét hộ vay, đôn đốc hộ vay trả lãi, trả gốc và thực hiện thu lãi theo đúng hợp đồng đã ký, tỷ lệ thu lãi đúng kỳ hạn hàng tháng đạt tỷ lệ cao (trên 98%), 100% số Tổ TK&VV đã triển khai huy động tiền gửi của tổ viên với tỷ lệ tổ viên tham gia đạt 98%/tổng số thành viên, trong đó trên 70% tổ viên tham gia đều hàng tháng. Đến 31/12/2019 tổng số dư tiền gửi đạt 142,6 tỷ đồng, tăng 106,1 tỷ đồng (HND 51 tỷ đồng, tăng 35,8 tỷ đồng; HPN 68,6 tỷ đồng, tăng 51,9 tỷ đồng; HCCB 15,6 tỷ đồng, tăng 12 tỷ đồng; ĐTN 7,4 tỷ đồng, tăng 6,5 tỷ đồng). Bình quân số dư tiền gửi tiết kiệm của mỗi Tổ đạt 42,4 triệu đồng, của mỗi tổ viên là 1,3 triệu đồng.

Chất lượng hoạt động của các Tổ TK&VV ngày càng được nâng lên, đến 31/12/2019 , Tổ không có nợ quá hạn là 3.200 tổ, tỷ lệ 95,1% tổng số tổ; Đánh giá chất lượng hoạt động tổ toàn tỉnh có 3.203 tổ xếp loại tốt, chiếm tỷ lệ 95,16%, 122 tổ xếp loại khá, tỷ lệ 3,62%, 37 tổ xếp loại trung bình, tỷ lệ 1,1%, 4 tổ xếp loại yếu, tỷ lệ 0,12%. Một số nơi có tỷ lệ Tổ TK&VV xếp loại tốt cao, không có Tổ trung bình, yếu kém như: Mỹ Lộc, Nghĩa Hưng, Hải Hậu.

2. Những mặt làm được

2.1. Về thực hiện nội dung thỏa thuận

* Công tác tuyên truyền, vận động:

Để cán bộ, tổ viên tổ TK&VV, các đối tượng thuộc diện được thụ hưởng hiểu đúng và đầy đủ chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ, Hội đoàn thể các cấp đã làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng và Chính phủ về chính sách tín dụng ưu đãi và các chương trình tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác với nhiều hình thức đa dạng, phong phú.

Hội đoàn thể cấp tỉnh và cấp huyện đã phối hợp tốt với NHCSXH cùng cấp biên soạn, in ấn nhiều tài liệu tuyên truyền phù hợp, sử dụng hiệu quả các phương tiện thông tin, truyền thông như: báo, tạp chí, bản tin công tác Hội, website,… và chủ động phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí của Trung ương và địa phương, thường xuyên đưa tin, bài phản ánh về việc tổ chức thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước và hoạt động nhận ủy thác của Hội đoàn thể. Tuyên truyền tập trung vào đối tượng hộ vay vốn thông qua các kênh như đài truyền thanh, huyện, xã, cử cán bộ tham gia sinh hoạt cùng với tổ TK&VV để tuyên truyền, phổ biến, giải đáp thắc mắc của người dân giúp cho người dân nắm vững chế độ, chính sách từ đó việc triển khai các chính sách tín dụng được nhanh chóng, thuận lợi, đảm bảo thực hiện đúng quy định và nâng cao vai trò giám sát của người dân... Việc tuyên truyền nêu gương, động viên, khen thưởng những tập thể, cá nhân thực hiện tốt công tác ủy thác, các hộ nghèo và đối tượng chính sách khác sử dụng vốn có hiệu quả cũng được Hội đoàn thể các cấp coi trọng.

Bên cạnh đó, các Hội đoàn thể đã phối hợp với NHCSXH tổ chức thi nghiệp vụ giỏi, thi tìm hiểu về Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội để cán bộ, Hội viên giao lưu học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tăng cường sự hiểu biết, gắn kết, động viên, biểu dương cán bộ, viên chức, người lao động NHCSXH và cán bộ tổ chức CT-XH nhận ủy thác.

Có thể khẳng định rằng công tác tuyên truyền của NHCSXH và Hội đoàn thể các cấp đã giúp cho người dân nhất là hộ nghèo nắm được chủ trương, chính sách, có cơ hội tham gia giám sát việc thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi; xóa bỏ mặc cảm tự ti, tâm lý trông chờ ỷ lại; phát huy nội lực phấn đấu giảm nghèo và vươn lên khá, giầu.

- Thường xuyên vận động các Tổ TK&VV hoạt động theo đúng Quy chế về tổ chức và hoạt động của tổ TK&VV, duy trì hoạt động tổ theo địa bàn dân cư để thuận tiện cho công tác quản lý Tổ.

- Chỉ đạo Hội đoàn thể cấp xã tham gia giám sát các phiên giao dịch và hoạt động giao dịch của NHCSXH tại xã và vận động, đôn đốc Ban quản lý Tổ TK&VV tham dự đầy đủ các phiên giao dịch của NHCSXH, hướng dẫn tổ viên thực hiện giao dịch với NHCSXH.

- Vận động tổ viên Tổ TK&VV chấp hành Quy ước hoạt động của Tổ, thực hành tiết kiệm, giúp đỡ nhau, cùng chia sẻ trong việc sử dụng vốn vay đúng mục đích có hiệu quả góp phần nâng cao đời sống, thực hiện trả nợ, trả lãi đúng kỳ hạn đã cam kết với Ngân hàng.

- Để hoàn thành tốt các công việc nhận uỷ thác, những năm qua, công tác tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kiến thức nghiệp vụ, kỹ năng quản lý cho cán bộ nhận ủy thác và Tổ trưởng Tổ TK&VV đã được các cấp Hội phối hợp với NHCSXH thực hiện khá tốt, trong 05 năm đã có trên 20.000 lượt cán bộ Hội đoàn thể các cấp và Tổ trưởng Tổ TK&VV được tập huấn. Ngoài việc phối hợp với NHCSXH tổ chức tập huấn chuyên đề, các Hội đoàn thể cũng chủ động đưa nội dung hoạt động ủy thác vào chương trình tập huấn, bồi dưỡng cán bộ hàng năm. Ngoài ra, hàng tháng NHCSXH đều duy trì lịch giao ban với Hội đoàn thể cấp xã và tổ trưởng tổ TK&VV tại Điểm giao dịch xã để rút kinh nghiệm, chấn chỉnh những tồn tại, sai sót kết hợp tập huấn nghiệp vụ, nhất là các nghiệp vụ, các chương trình mới.

Qua công tác tập huấn, trình độ nghiệp vụ của cán bộ Hội đoàn thể, tổ trưởng Tổ TK&VV được nâng lên, thấy rõ trách nhiệm và những tồn tại, thiếu sót trong quá trình hướng dẫn lập hồ sơ vay vốn, thu lãi, thu tiết kiệm do ngân hàng uỷ nhiệm. Một số nơi sau khi tập huấn nghiệp vụ và thường xuyên họp rút kinh nghiệm đã có sự chuyển biến tích cực, làm tốt các nội dung uỷ thác, chất lượng tín dụng được nâng lên.

* Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của Tổ TK&VV, Ban quản lý Tổ và tổ viên Tổ TK&VV

Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động ủy thác được Hội đoàn thể các cấp chú trọng. Trong đó tập trung kiểm tra việc tổ chức thực hiện các nội dung nhận ủy thác, kiểm tra hoạt động của Tổ TK&VV, kiểm tra người vay sử dụng vốn…, Hàng năm, Hội đoàn thể các cấp đều xây dựng kế hoạch kiểm tra, phân công trách nhiệm cụ thể cho cán bộ phụ trách chương trình và phụ trách địa bàn thực hiện kiểm tra theo chuyên đề hoặc kiểm tra lồng ghép với các nội dung, chương trình công tác Hội theo định kỳ.

Trong 05 năm qua, Hội đoàn thể các cấp đã thực hiện hàng nghìn cuộc kiểm tra về hoạt động ủy thác cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Thông qua công tác kiểm tra đã kịp thời phát hiện và có biện pháp khắc phục, xử lý những trường hợp bình xét cho vay chưa đúng đối tượng, cho vay ké; thu lệ phí sai quy định, sử dụng phí ủy thác và hoa hồng chưa đúng; chấn chỉnh công tác thống kê, theo dõi, báo cáo kết quả hoạt động ủy thác của Hội cấp tỉnh, huyện, cấp xã; công tác lập và lưu giữ hồ sơ, sổ sách của Tổ TK&VV…

Ngoài ra, đại diện lãnh đạo Hội cấp tỉnh và cấp huyện tham gia BĐD HĐQT NHCSXH đã thực hiện tốt chức năng kiểm tra, giám sát theo quy định. Ở cơ sở, Ban Thường vụ Hội cấp xã cũng thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của Tổ TK&VV, tham gia chứng kiến các phiên giao dịch tại Điểm giao dịch và giao ban với NHCSXH đầy đủ theo quy định.

* Các hoạt động phối hợp thực hiện cùng NHCSXH

Những năm qua, NHCSXH và các tổ chức CT-XH nhận ủy thác luôn phối hợp chặt chẽ thực hiện có hiệu quả các nội dung ủy thác, giúp cho việc chuyển tải nguồn vốn đến với hộ nghèo và các đối tượng nhanh chóng, kịp thời, đúng đối tượng thụ hưởng.

- Các Hội đoàn thể đã chỉ đạo cơ sở nhận và thông báo kết quả phê duyệt Danh sách hộ gia đình được vay vốn cho Tổ TK&VV để Tổ thông báo đến từng hộ gia đình.

- Phối hợp với NHCSXH và chính quyền địa phương xử lý các trường hợp nợ chây ỳ, nợ quá hạn, người vay bỏ đi khỏi nơi cư trú và hướng dẫn hộ vay lập hồ sơ đề nghị xử lý nợ rủi ro do nguyên nhân khách quan; tham gia Tổ đôn đốc thu hồi nợ khó đòi cấp xã do vậy chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao, nợ quá hạn năm sau giảm so với năm trước.

- Trên cơ sở kết quả đánh giá hoạt động của Tổ TK&VV hàng tháng, phối hợp với NHCSXH phân tích chất lượng hoạt động của Tổ TK&VV; thực hiện các giải pháp củng cố, kiện toàn hoạt động của các Tổ TK&VV trung bình, yếu do vậy hiện nay Tổ có chất lượng hoạt động trung bình, yếu chỉ chiếm 1,22%

2.2. Về thực hiện trách nhiệm của các bên

* Trách nhiệm của tổ chức chính trị - xã hội

- Tổ chức thực hiện tốt những nội dung công việc nhận ủy thác không chỉ góp phần chuyển tải vốn tín dụng nhanh chóng, thuận tiện đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác mà còn có tác động lớn tới công tác tuyên truyền, tập hợp hội viên và xây dựng tổ chức Hội vững mạnh. Vì vậy, ngay sau khi ký Văn bản liên tịch, các Hội đoàn thể đã ban hành các văn bản hướng dẫn, tổ chức Hội nghị quán triệt và chỉ đạo các huyện, thành Hội ký Văn bản liên tịch, Hội cấp xã ký Hợp đồng ủy thác với NHCSXH cấp huyện. Hiện có 10/10 HND, HPN, HCCB và 08/10 ĐTN cấp huyện ký Văn bản liên tịch; 190 HND, 216 HPN, 118 HCCB, 49 ĐTN cấp xã ký Hợp đồng ủy thác với với PGD NHCSXH cấp huyện.

- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện ủy thác luôn được Ban Thường vụ Hội đoàn thể các cấp quan tâm. Ở mỗi cấp đều phân công 01 đồng chí lãnh đạo trực tiếp phụ trách và bố trí cán bộ hoặc bộ phận chuyên trách theo dõi, tổ chức thực hiện. Phối hợp với NHCSXH ban hành bộ sổ sách theo dõi hoạt động ủy thác từ cấp tỉnh đến cấp xã để hoạt động ủy thác được theo dõi đầy đủ, chi tiết, khoa học, Hội đoàn thể nắm bắt kịp thời hoạt động của từng Hội, tổ TK&VV như tình hình nợ quá hạn, lãi tồn, công tác kiểm tra giám sát …phục vụ tốt cho công tác chỉ đạo thực hiện các nội dung ủy thác, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách. Chỉ đạo Ban Thường vụ tổ chức Hội đoàn thể cấp xã không được kiêm nhiệm Ban quản lý Tổ TK&VV để đảm bảo việc kiểm soát và đôn đốc hoạt động của Tổ TK&VV.

- Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, đôn đốc của tổ chức Hội đoàn thể nhận ủy thác cấp tỉnh, huyện đối với Hội đoàn thể cấp xã; các Tổ TK&VV thuộc Hội đoàn thể mình theo dõi, quản lý. Hàng năm, ngay từ đầu năm, Hội, đoàn thể cấp tỉnh, huyện, xã đều xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát hoạt động thực hiện ủy thác đảm bảo tần suất kiểm tra: đối với cấp tỉnh, thực hiện kiểm tra 100% Hội cấp huyện; Hội cấp huyện thực hiện kiểm tra 100% Hội cấp xã; Hội cấp xã thực hiện kiểm tra 100% Tổ TK&VV do Hội quản lý và kiểm tra 100% các hộ vay mới trong vòng 30 ngày kể từ ngày NHCSXH giải ngân cho hộ vay. Sau kiểm tra, thông báo kết quả kiểm tra cho NHCSXH cùng cấp và Hội đoàn thể cấp trên để theo dõi và phối hợp khắc phục, chỉnh sửa những tồn tại, sai sót.

- Công tác giao ban, sơ kết, tổng kết hoạt động ủy thác theo định kỳ được thực hiện nghiêm túc. Căn cứ vào kết luận giao ban, các Hội đoàn thể đều có văn bản chỉ đạo hoạt động ủy thác và chấn chỉnh những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động ủy thác đến từng cấp Hội cơ sở. Chỉ đạo Hội đoàn thể cấp xã phối hợp cùng NHCSXH cấp huyện tổ chức giao ban thường xuyên theo lịch trực giao dịch của NHCSXH tại xã để nắm bắt tình hình, kết quả thực hiện ủy thác cho vay, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh tại xã.

- Bên cạnh hoạt động cho vay vốn, để giúp hộ vay sử dụng hiệu quả Hội các cấp đã chủ động phối hợp với ngành Nông nghiệp, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, các tổ chức kinh tế, các nhà khoa học, đặc biệt là đội ngũ cán bộ khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm, khuyến công tổ chức các buổi tập huấn, hướng dẫn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho các hộ vay vốn. Ngoài ra, các cấp Hội còn xây dựng các mô hình phát triển kinh tế có hiệu quả để tổ chức cho hội viên thăm quan, trao đổi kinh nghiệm. Hàng năm, các cấp Hội đã tham gia tổ chức và trực tiếp dạy nghề cho lao động nông thôn. Từ những hoạt động trên đã tạo ra sự lan tỏa, cuốn hút hộ vay tham gia thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, từng bước làm quen với sản xuất hàng hóa, sử dụng vốn đúng mục đích, nhiều hộ đạt mức thu nhập cao đã thoát nghèo, từng bước vươn lên làm giầu.

- Để thống nhất việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn phí và hoa hồng do NHCSXH chi trả, các Hội đoàn thể tỉnh đã có văn bản hướng dẫn các cấp Hội sử dụng phí ủy thác thống nhất và xây dựng Quy chế quản lý, sử dụng phí của Hội phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương. Về cơ bản, nguồn phí ủy thác được quản lý và sử dụng đúng quy định phục vụ cho công tác chỉ đạo và thực hiện hoạt động ủy thác.

* Trách nhiệm của NHCSXH

- Bám sát chỉ tiêu kế hoạch tín dụng TW giao, phối hợp với tổ chức Hội, đoàn thể cho vay đúng đối tượng. Tạo điều kiện cho tổ chức Hội, đoàn thể thực hiện tốt các nội dung ủy thác. Thanh toán đầy đủ và đúng định kỳ trả phí ủy thác.

- Thông báo kịp thời cho Hội đoàn thể khi Thủ tướng Chính phủ có thay đổi, bổ sung về chủ trương, chính sách tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Đồng thời, phối hợp với Hội đoàn thể tổ chức tập huấn về cơ chế, chính sách và văn bản mới.

            - NHCSXH cấp tỉnh, huyện đã làm tốt việc chủ động tổ chức giao ban theo định kỳ với các Hội đoàn thể nhận ủy thác. Sau giao ban đã kịp thời thông báo kết quả thực hiện, hạn chế, tồn tại trong kỳ và thống nhất giải pháp khắc phục trong kỳ tiếp theo, đặc biệt quan tâm, chú trọng chất lượng giao ban tại xã.

- Hàng năm, NHCSXH tỉnh đều xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát đối các đơn vị cấp huyện. Tại mỗi đơn vị được kiểm tra thực hiện kiểm tra 100% tổ chức CT-XH nhận ủy thác cấp huyện, tối thiểu 20% đơn vị nhận ủy thác cấp xã. Việc tổ chức kiểm tra, giám sát được lập thành văn bản để theo dõi và có cơ sở xử lý khi cần thiết. Đồng thời, thông báo vấn đề phát sinh liên quan đến ủy thác cho tổ chức Hội, đoàn thể cùng cấp để phối hợp giải quyết.

3. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

3.1. Tồn tại, hạn chế

Mặc dù đạt được những kết quả nêu trên, nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện ủy thác, còn một số nơi Hội đoàn thể chưa thực hiện tốt các nội dung công việc được ủy thác theo quy định, có thể nêu một số hạn chế thiếu sót chính như sau:

- Công tác tuyên truyền về các chủ trương, chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ, quy định của NHCSXH ở một số nơi còn chưa kịp thời. Do vậy, còn một bộ phận hộ nghèo và đối tượng chính sách khác nhận thức chưa đúng về chính sách tín dụng ưu đãi, dẫn đến việc tham gia và thực hiện nghĩa vụ về vay vốn chưa đầy đủ.

- Khâu chỉ đạo, quản lý hoạt động của Tổ TK&VV ở một số địa phương còn xem nhẹ, chất lượng cán bộ Tổ TK&VV có nơi chưa đáp ứng yêu cầu. Quá trình bình xét các đối tượng vay vốn của Tổ chưa thực sự dân chủ, công khai. Sinh hoạt Tổ TK&VV chưa được tổ chức thường xuyên, còn hình thức, đơn điệu, chủ yếu tập trung đôn đốc việc trả nợ và thực hiện thu lãi, việc hướng dẫn giúp đỡ, giám sát lẫn nhau giữa các tổ viên trong sản xuất và cuộc sống chưa nhiều.

- Chất lượng tín dụng ủy thác chưa đồng đều, một số nơi nợ quá hạn cao, chuyển biến chậm, đặc biệt là địa bàn Thành phố. Đến 31/12/2019, còn 166 tổ TK&VV có nợ quá hạn (=4,9% tổng số tổ), trong đó 63 tổ có tỷ lệ nợ quá hạn trên 2% (HND 26 tổ, HPN 26 tổ, CCB 8 tổ, ĐTN 3 tổ), chiếm 1,9% tổng số tổ; 37 tổ xếp loại trung bình (HND 17 tổ, HPN 13 tổ, HCCB 6 tổ, ĐTN 1 tổ), 4 tổ xếp loại yếu (mỗi Hội đoàn thể 01 tổ). Một số cơ sở có tình trạng cán bộ Hội, cán bộ Tổ TK&VV lợi dụng làm ủy thác đã vay ké, thu gốc, thu lãi của người vay để chiếm dụng nhưng chưa có biện pháp để xử lý dứt điểm; việc phối hợp với NHCSXH, chính quyền địa phương đôn đốc thu nợ tồn đọng chưa tích cực; chưa phát hiện kịp thời người vay bị rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng, hộ vay đi khỏi địa phương để thông báo cùng ngân hàng, chính quyền cấp xã có biện pháp xử lý.

- Công tác chỉnh sửa, khắc phục những tồn tại sau kiểm tra của các Đoàn kiểm tra còn chậm, chưa triệt để, còn nhiều sai sót lặp lại. Việc ghi chép, lưu giữ hồ sơ, sổ sách về hoạt động ủy thác chưa đầy đủ, chưa khoa học.

- Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động uỷ thác của Hội đoàn thể cấp trên đối với cấp dưới, nhất là việc kiểm tra của Ban Thường vụ Hội cơ sở đối với các Tổ TK&VV, kiểm tra việc hộ vay sử dụng vốn còn hình thức, chất lượng chưa cao nên chưa phát hiện được những tồn tại sai sót, hộ vay sử dụng vốn không đúng mục đích xin vay.

- Công tác đào tạo, tập huấn cán bộ Hội, cán bộ Tổ TK&VV một số nơi chưa thực sự chủ động, còn trông chờ NHCSXH và Hội cấp trên. Việc phối hợp với các ngành tổ chức tập huấn, hướng dẫn hộ vay sử dụng vốn, chuyển giao kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm sản xuất... thực hiện chưa thường xuyên, chưa nhiều.

- Chế độ thông tin báo cáo hoạt động ủy thác trong hệ thống Hội thực hiện chưa nghiêm túc, chưa kịp thời.

3.2. Nguyên nhân

- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra của Ban Thường vụ Hội đoàn thể ở một số địa phương chưa quyết liệt, chưa kịp thời. Việc bố trí, phân công cán bộ lãnh đạo phụ trách, cán bộ trực tiếp theo dõi chương trình chưa ổn định.

- Sự phối hợp với chính quyền địa phương và NHCSXH trong quá trình tổ chức thực hiện, trao đổi, chia sẻ thông tin, công tác giao ban, sơ kết, tổng kết chưa kịp thời, chưa thường xuyên. Bên cạnh đó, cấp ủy, chính quyền một số nơi chưa thật sự quan tâm, đánh giá đúng mức về vai trò, hiệu quả hoạt động ủy thác của các tổ chức CTXH; chưa chỉ đạo các đơn vị có liên quan và Trưởng thôn phối hợp với các tổ chức CTXH trong quá trình thực hiện hoạt động ủy thác.

- Các chính sách tín dụng ưu đãi khá nhiều, các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của NHCSXH cũng thường xuyên bổ sung, sửa đổi nên đã gây ít nhiều khó khăn cho cán bộ Hội, cán bộ Tổ trong việc tiếp thu và triển khai thực hiện.

- Chưa có bộ tiêu chí chấm điểm đánh giá chất lượng hoạt động ủy thác của các tổ chức CTXH nên chưa tạo động lực thi đua giữa các đơn vị nhận ủy thác trong từng tổ chức CTXH cũng như giữa các tổ chức CTXH khác nhau trên cùng địa bàn.

4. Đánh giá chung

4.1. Hiệu quả hoạt động ủy thác trong thực hiện tín dụng chính sách xã hội, góp phần thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia

- Mặc dù còn một số hạn chế, thiếu sót, nhưng những kết quả đạt được trong thời gian qua là rất quan trọng khẳng định phương thức ủy thác một số nội dung công việc trong quy trình cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác mà NHCSXH và các đoàn thể chính trị - xã hội đang thực hiện là cách làm năng động, sáng tạo; một mô hình hiệu quả, rất đặc trưng và mang tính ưu việt của Việt Nam. Cách làm đó đã giúp cho kênh vốn tín dụng chính sách đến đúng đối tượng được thụ hưởng; hộ nghèo, các đối tượng chính sách được vay vốn thuận lợi, an toàn, nhanh chóng; giảm thời gian giao dịch tín dụng, tiết kiệm chi phí đi lại của hộ vay. Việc cho vay vốn qua Tổ TK&VV đã làm tăng sự đoàn kết, tính nhân ái, giàu tình thương yêu đùm bọc, gắn bó tình làng, nghĩa xóm. Giúp các hộ nghèo hình thành thói quen tiết kiệm và tăng cường trách nhiệm cộng đồng trong quá trình tổ chức sản xuất, kinh doanh, ổn định cuộc sống, thực hiện nghĩa vụ công dân, nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng. Nhờ có vốn kịp thời, các hộ nghèo có điều kiện để phát triển sản xuất, cải thiện cuộc sống, trong 05 năm qua đã góp phần giúp 11.119 hộ thoát khỏi ngưỡng nghèo, 9.029 hộ thoát cận nghèo, tạo việc làm cho 7.189 lao động, 5.621 học sinh sinh viên con hộ nghèo, cận nghèo, hộ có khó khăn về tài chính có điều kiện theo học tại các trường đại học, cao đẳng trung học chuyên nghiệp góp phần thực hiện chủ trương của Chính phủ “không để một học sinh, sinh viên nào phải bỏ học vì không có tiền nộp học”, xây dựng 83.957 công trình nước sạch, 83.925 công trình vệ sinh góp phần nâng cao đời sống sinh hoạt, sức khỏe cho người dân và xây dựng 384 căn nhà cho hộ nghèo, 57 căn nhà cho người có thu nhập thấp giải quyết tốt vấn đề an sinh xã hội, qua đó góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh trong thời kỳ 2015-2019 từ 5,7% xuống 1,57% và đóng góp tích cực trong việc đưa Nam Định trở thành một trong hai tỉnh đầu tiên hoàn thành xây dựng mới vào năm 2019.

- Nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ đến nhanh, đến đúng với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác do việc bình xét, xét duyệt cho vay vốn được thực hiện dân chủ công khai sát với đối tượng vay, mức vay và thời hạn vay phù hợp với từng chương trình dự án sản xuất kinh doanh của hộ vay.

- Các hội đoàn thể đã thực hiện được các nội dung uỷ thác trong quy trình cho vay; quản lý và duy trì hoạt động của các tổ TK&VV theo đúng Quy chế hoạt động của Tổ TK&VV; giải ngân vốn kịp thời không để đọng vốn; đôn đốc thu nợ, thu lãi tích cực đạt kết quả tốt, tỷ lệ nợ quá hạn thấp.

4.2. Hiệu quả hoạt động ủy thác trong xây dựng bộ máy và hoạt động phong trào của các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác

- Thông qua ủy thác, các tổ chức chính trị - xã hội đã giúp cho NHCSXH thực hiện được chủ trương công khai hóa, dân chủ hoá và xã hội hoá hoạt động tín dụng ngân hàng, nhất là chính sách tín dụng ưu đãi của nhà nước, đồng thời giúp cho ngân hàng tiết giảm được chi phí quản lý, không làm tăng thêm biên chế trong ngành. Công tác quản lý nợ, thu lãi, thu nợ gốc, hướng dẫn hộ nghèo sử dụng vốn vay đúng mục đích, đạt hiệu quả được thực hiện tốt hơn.

- Thực hiện ủy thác cho vay vốn đối với hộ nghèo và đối tượng chính sách khác là điều kiện để Hội tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động của Hội đoàn thể thực chất và hiệu quả hơn, thu hút nhiều hội viên vào Hội. Hội có thêm kinh phí hoạt động, có điều kiện để thực hiện tốt hơn việc lồng ghép các chương trình công tác của Hội, trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, dạy nghề cho hội viên, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay. Đồng thời, qua đó giúp nâng cao năng lực quản lý nhà nước, quản lý tài chính, tín dụng của đội ngũ cán bộ Hội các cấp phát huy được vai trò, nhiệm vụ của Hội là trung tâm nòng cốt cho các phong trào và công cuộc xây dựng nông thôn mới, xứng đáng là chủ thể trong phát triển kinh tế - xã hội.

- Thông qua họp hội, cán bộ của các tổ chức CT-XH càng hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của hội viên từ đó tham mưu tích cực cho cấp uỷ ra được chủ trương sát đúng trong quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.

III. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Từ tổ chức thực hiện ủy thác cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác thời gian qua có thể rút ra những kinh nghiệm sau:

Một là, phải tranh thủ được sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp; phải tạo được cơ chế phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, cụ thể giữa Hội đoàn thể nhận ủy thác và NHCSXH; làm tốt công tác tuyên truyền, phát huy tinh thần chủ động, trách nhiệm của các cán bộ tham gia vào hoạt động tín dụng chính sách và các đối tượng thuộc diện được thụ hưởng các chính sách tín dụng ưu đãi.

Hai là, phải phân công, bố trí ổn định cán bộ làm ủy thác có đủ năng lực, trình độ, nhiệt tình trách nhiệm để chỉ đạo và tổ chức thực hiện ủy thác ở Hội đoàn thể các cấp. Coi trọng công tác đào tạo, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ Hội và cán bộ Tổ TK&VV.

Ba là, Ban Thường vụ Hội đoàn thể các cấp, nhất là cấp xã cần chủ động, phối hợp chặt chẽ với chính quyền và NHCSXH trong xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động hàng năm để tiếp nhận được nguồn vốn ủy thác, gắn kết giữa việc cho vay vốn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và thực hiện các chương trình, nghị quyết của Hội.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động ủy thác của Hội đoàn thể cấp trên đối với cấp dưới, đối với Tổ TK&VV; kiểm tra, giám sát và hướng dẫn hộ vay sử dụng vốn đúng mục đích, đạt hiệu quả. Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo, giao ban, sơ kết, tổng kết theo định kỳ.

IV. PHƯƠNG HƯỚNG TRONG THỜI GIAN TỚI:

1. Mục tiêu

Trong những năm tới, NHCSXH và các cấp Hội đoàn thể tiếp tục phối hợp nâng cao chất lượng công tác nhận ủy thác, chất lượng tín dụng cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác với một số mục tiêu cụ thể cần đạt được là:

- Phấn đấu đạt mức tăng trưởng dư nợ ủy thác của Hội hàng năm bằng hoặc cao hơn mức tăng trưởng tín dụng bình quân chung về cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách khác của NHCSXH (khoảng 10%/năm).

- Tỷ lệ nợ quá hạn không vượt quá 0,1% so với tổng dư nợ nhận ủy thác.

- Tỷ lệ thu lãi (được ủy nhiệm) đúng hạn hàng tháng đạt từ 99% trở lên.

- Duy trì 100% Tổ TK&VV có hoạt động tiết kiệm tự nguyện và nâng tỷ lệ thành viên tham gia gửi tiết kiệm đều hàng tháng đạt 80% trở lên.

- Phấn đấu hàng năm không có Tổ TK&VV xếp loại yếu kém; giảm số tổ xếp loại trung bình, số Tổ TK&VV đạt loại tốt chiếm từ 97% trở lên.

2. Nhiệm vụ và giải pháp

Để thực hiện đạt các mục tiêu trên cần tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:

- Ban Thường vụ Hội đoàn thể các cấp làm tốt hơn công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện ủy thác, nhất là những địa phương chất lượng dịch vụ ủy thác còn thấp. Đảm bảo thực hiện đầy đủ những nội dung liên tịch và thỏa thuận đã ký với NHCSXH. Các cấp Hội (tỉnh, huyện và xã) đều phải phân công cán bộ lãnh đạo phụ trách và ít nhất 01 cán bộ chuyên trách theo dõi ổn định.

- Tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền tới cán bộ, hội viên, tổ viên các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về các chính sách tín dụng có ưu đãi của Chính phủ; những quy định thủ tục cho vay của NHCSXH; những gương điển hình trong tổ chức thực hiện ủy thác, trong sử dụng vốn vay… với nhiều hình thức, phương pháp phù hợp, hiệu quả.

- Phối hợp với NHCSXH và chính quyền cơ sở tiếp tục củng cố kiện toàn Tổ TK&VV theo đúng Quy chế do Hội đồng quản trị NHCSXH ban hành. Nâng cao chất lượng hoạt động của Tổ TK&VV.

- Tăng cường công tác kiểm tra của Hội đoàn thể cấp trên đối với cấp dưới về tổ chức thực hiện ủy thác đảm bảo tỷ lệ kiểm tra theo đúng Văn bản liên tịch đã ký và nâng cao chất lượng kiểm tra.

- Phối hợp với NHCSXH, các đơn vị liên quan triển khai các biện pháp thu hồi nợ quá hạn, nợ lãi tồn đọng, nợ do chiếm dụng. Thực hiện đối chiếu dư nợ theo qui định để kịp thời ngăn chặn, hạn chế nợ quá hạn mới phát sinh.

- Các cấp Hội đoàn thể cần chủ động và phối hợp với NHCSXH tổ chức đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cán bộ được phân công quản lý, theo dõi chương trình ủy thác và cán bộ Ban quản lý Tổ TK&VV ít nhất mỗi năm 01 lần/người.

- Tăng cường phối hợp với các ngành chức năng tổ chức tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, dạy nghề, hướng dẫn cách làm ăn có hiệu quả, ... giúp các hộ nghèo tổ chức sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả vươn lên thoát nghèo bền vững. Triển khai lồng ghép công tác uỷ thác cho hộ nghèo vay vốn với các chương trình dự án của Hội và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương. Cần xây dựng và mở rộng các mô hình sản xuất, kinh doanh theo dự án có sự hướng dẫn, tư vấn của Hội.

- Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo, trao đổi thông tin, duy trì công tác giao ban theo định kỳ và đánh giá kết quả thực hiện ủy thác hàng năm trong hệ thống Hội và giữa Hội với Ngân hàng. Quản lý, sử dụng phí ủy thác theo đúng quy định. Kịp thời biểu dương, khen thưởng động viên những đơn vị, cá nhân có nhiều thành tích trong hoạt động ủy thác và thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ. Đưa chỉ tiêu chất lượng hoạt động ủy thác vào tiêu chí đánh giá bình xét xếp loại thi đua hàng năm đối với các cấp Hội.

V. KIẾN NGHỊ, ĐỄ XUẤT

Để chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước phát huy hiệu quả hơn nữa đối với giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới bền vững, NHCSXH và Hội đoàn thể nhận ủy thác đề nghị:

1. Đối với Chính phủ và các Bộ ngành:

- Cho phép tiếp tục thực hiện Quyết định số 62/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng thực hiện chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Mở rộng đối tượng vay là các nhà đầu tư xây dựng công trình đầu mối cấp nước sạch, xử lý môi trường tập trung trên địa bàn nông thôn và hộ gia đình, đặc biệt là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thu nhập trung bình cư trú tại khu vực đô thị. Nâng mức cho vay đối với mỗi loại công trình tối đa là 20 triệu đồng/hộ.

- Xem xét kéo dài thời gian thụ hưởng chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo theo Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg ngày 21/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ từ 03 năm lên 05 năm kể từ khi hộ mới thoát nghèo ra khỏi danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo, đồng thời bổ sung đối tượng có thu nhập và hoàn cảnh tương đồng như Hộ mới thoát nghèo nhưng trước đây chưa nằm trong danh sách điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo.

- Bổ sung sản phẩm cho vay tiêu dùng đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và hộ có thu nhập trung bình để nâng cao đời sống của người dân, góp phần hạn chế nạn tín dụng đen tại các địa phương.

2. Đối với cấp ủy, chính quyền địa phương:

- Đề nghị cấp ủy, chính quyền các cấp tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với hoạt động tín dụng chính sách xã hội, thực hiện tốt Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư và Quyết định 401/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội. Tiếp tục, quan tâm bố trí nguồn lực từ ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác để bổ sung nguồn vốn cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn; hỗ trợ về cơ sở vật chất, địa điểm, trang thiết bị, phương tiện làm việc nhằm nâng cao năng lực hoạt động của NHCSXH.

- Xây dựng chương trình, dự án, gắn kết giữa đầu tư các mô hình kinh tế với nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội; đẩy mạnh hoạt động khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm, khuyến ngư, chuyển giao công nghệ, tiêu thụ sản phẩm để nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách xã hội; thường xuyên điều tra, rà soát, thống kê xác nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác để tạo điều kiện cho các đối tượng này được vay vốn kịp thời, đúng đối tượng.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động tín dụng chính sách tại cơ sở, hoạt động ủy thác của các tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động của tổ TK&VV, tình hình sử dụng vốn của người vay./.