Thống kê truy cập
  • Đang online: 45
  • Hôm nay: 4,221
  • Trong tuần: 20,299
  • Tất cả: 13,224,621
Lượt xem: 4473

Báo cáo Đánh giá vai trò, hiệu quả của tín dụng chính sách xã hội trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020

Phát triển kinh tế gắn với giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện các chủ trương trên, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều giải pháp hỗ trợ giảm nghèo bền vững, trong đó có chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Thực hiện Quyết định số 152/QĐ-BCĐCTMTQG ngày 11/02/2020 của Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020 về việc Ban hành Kế hoạch tổng kết lĩnh vực giảm nghèo. Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định tổng hợp, báo cáo đánh giá vai trò, hiệu quả của tín dụng chính sách xã hội trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn như sau:

I. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI, THỰC TRẠNG NGHÈO

Nam Định là một tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ, tiếp giáp với tỉnh Thái Bình ở phía bắc, tỉnh Ninh Bình ở phía nam, tỉnh Hà Nam ở phía tây bắc, giáp biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía đông; với diện tích tự nhiên 1.669 km2, có 10 huyện, thành phố với 226 xã, phường, thị trấn, dân số 2.012.850 người với 617.347 hộ dân, tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, chiếm trên 80%.

Trong những năm gần đây tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục ổn định, phát triển. Các cấp, ngành, địa phương, tổ chức đoàn thể xã hội và doanh nghiệp đã tích cực triển khai đồng bộ các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo đúng chỉ đạo của Chính phủ. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, công tác an sinh xã hội đối với người có công, gia đình chính sách, hộ nghèo được thực hiện tốt, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm: Đầu năm 2016, toàn tỉnh có 33.864 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 5,7%; 36.474 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 6,13%. Đến cuối năm 2019, toàn tỉnh còn 9.443 hộ nghèo (giảm 24.421 hộ), chiếm tỷ lệ 1,53% (giảm 4,17%), hộ cận nghèo 37.609 hộ (tăng 1.135 hộ), chiếm tỷ lệ 6,09% (giảm 0,04%).

Các chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ giảm nghèo đã được triển khai thực hiện tốt, tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo phát triển sản xuất kinh doanh, ổn định đời sống, vươn lên thoát nghèo bền vững. Trong giai đoạn 2016-2020, đã có 31.795 hộ thoát nghèo và 72.470 hộ thoát cận nghèo. Tỷ lệ tái nghèo thấp, trong giai đoạn chỉ có 3.639 hộ tái nghèo và 6.459 hộ tái cận nghèo.

Việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững tại địa phương có phần đóng góp không nhỏ của các chương trình tín dụng chính sách do Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) thực hiện.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2016-2020

  1. Công tác chỉ đạo, điều hành tín dụng chính sách xã hội

Giai đoạn 2016 đến nay, NHCSXH tỉnh tiếp tục chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp và phối hợp chặt chẽ với các tổ chức CT-XH nhận ủy thác triển khai thực hiện tốt các chương trình tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và đảm bảo an sinh xã hội. UBND tỉnh đã kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo triển khai các chương trình mới, các chính sách mới liên quan đến tín dụng chính sách xã hội.

UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành, tổ chức chính trị - xã hội, UBND các huyện, thành phố tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư, Kế hoạch số 11/KH-UBND ngày 04/02/2015 về việc triển khai Chỉ thị số 40-CT/TW trên địa bàn tỉnh và các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, NHCSXH Việt Nam liên quan đến công tác tín dụng chính sách xã hội, xem đây là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm, góp phần thực hiện tốt Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm chính sách an sinh xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống người dân trên địa bàn tỉnh; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và Nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác tín dụng chính sách xã hội; đồng thời phát động phong trào, cuộc vận động vì người nghèo để vận động cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân gửi tiết kiệm tại NHCSXH, góp phần bổ sung nguồn vốn cho tín dụng chính sách xã hội.

Chỉ đạo UBND các huyện, thành phố tiếp tục hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của NHCSXH trên địa bàn, đặc biệt quan tâm cân đối ngân sách, bố trí kế hoạch vốn hàng năm ủy thác qua NHCSXH để bổ sung nguồn vốn cho vay đối tượng chính sách trên địa bàn, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện tốt công tác điều tra, rà soát, bổ sung và xác nhận đúng đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo làm cơ sở thực hiện chính sách tín dụng đúng mục tiêu, đúng đối tượng; nâng cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền trong việc củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách xã hội, đặc biệt tiếp tục nâng cao và phát huy tốt vai trò của Chủ tịch UBND cấp xã là thành viên Ban đạo diện HĐQT NHCSXH cấp huyện trong việc quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình tín dụng chính sách trên địa bàn; quan tâm hỗ trợ cơ sở vật chất, tạo điều kiện làm việc cho NHCSXH, nhất là Điểm giao dịch xã của NHCSXH tại xã, phường, thị trấn. Bên cạnh đó, UBND tỉnh cũng chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường tuyên truyền sâu rộng, thiết thực, hiệu quả để người dân biết và hiểu về các chương trình tín dụng chính sách của Nhà nước. Các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nội dung ủy thác đã ký kết; phối hợp chặt chẽ với NHCSXH tỉnh, huyện và chính quyền địa phương trong việc củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng chính sách xã hội; hướng dẫn bình xét đối tượng vay vốn; tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc thu hồi nợ đến hạn, nợ quá hạn, hướng dẫn người vay sử dụng vốn hiệu quả; lồng ghép với chương trình, dự án của các tổ chức chính trị - xã hội; làm tốt công tác tư vấn, hướng dẫn xây dựng và nhân rộng mô hình sản xuất, kinh doanh điển hình, giúp nhau vươn lên thoát nghèo và làm giàu.

Chi nhánh NHCSXH tỉnh thường xuyên tham mưu kịp thời cho cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn; chủ động phối hợp với cơ quan liên quan rà soát, xác định nhu cầu vốn của các đối tượng thụ hưởng, tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của Trung ương bổ sung nguồn vốn và giải ngân kịp thời cho các đối tượng theo quy định; duy trì và nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động tại các Điểm giao dịch xã; chú trọng giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác tăng cường kiểm tra, giám sát người vay sử dụng vốn đúng mục đích, đôn đốc thu hồi nợ đúng hạn, hạn chế nợ xấu phát sinh, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách trên địa bàn.

2. Những kết quả đạt được

a) Tập trung huy động nguồn lực tài chính, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách khác:

Để đáp ứng nhu cầu vốn của hộ nghèo và các đối tượng chính sách trên địa bàn, hàng năm bên cạnh nguồn vốn cân đối từ TW chuyển về, cấp ủy, chính quyền các cấp đã dành một phần ngân sách địa phương ủy thác qua NHCSXH để bổ sung nguồn vốn cho vay. Đặc biệt, thực hiện Chỉ thị số 40- CT/TW của Ban Bí thư TW, hiệu lực lãnh đạo, chỉ đạo đối với tín dụng chính sách xã hội của các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở được nâng lên; cấp ủy, chính quyền các cấp đã tăng cường nguồn ngân sách bổ sung nguồn vốn cho vay tín dụng chính sách. Ngoài ra, NHCSXH cũng đẩy mạnh huy động vốn từ dân cư và cùng với nguồn vốn được bổ sung hàng năm, tích cực thu hồi nợ để cho vay quay vòng nhằm cơ bản đáp ứng nhu cầu vay vốn cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách. Đến 31/3/2020, tổng nguồn vốn đạt 3.166,21 tỷ đồng, tăng 892,47 tỷ đồng so với cuối năm 2015 (+40,1%). Cơ cấu nguồn vốn cụ thể như sau:

- Nguồn vốn cân đối từ Trung ương: 2.676,88 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 84,55% tổng nguồn vốn, tăng 543,05 tỷ đồng.

- Nguồn vốn huy động tại địa phương được TW cấp bù lãi suất chênh lệch: 460,18 tỷ đồng, chiếm 14,53% tổng nguồn vốn, tăng 327,97 tỷ đồng. Trong đó: Huy động tiền gửi của tổ viên tổ TK&VV 144,68 tỷ đồng, tăng 99,06 tỷ đồng.

- Vốn nhận ủy thác đầu tư ngân sách địa phương: 29,15 tỷ đồng, chiếm 0,92% tổng nguồn vốn, tăng 21,45 tỷ đồng (tăng 2,7 lần). Trong đó: Ngân sách tỉnh: 14 tỷ đồng, tăng 7 tỷ đồng; ngân sách huyện 13,19 tỷ đồng, tăng 12,49 tỷ đồng; Lãi nhập nguồn 1,96 tỷ đồng.

b) Kết quả thực hiện các chương trình tín dụng chính sách:

Đến 31/3/2020, tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách đạt 3.102,1 tỷ đồng, tăng 882,53 tỷ đồng (+39,76%) so với 31/12/2015, tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân hàng năm đạt 8%, với hơn 102.334 khách hàng còn dư nợ. Trong giai đoạn từ năm 2016 đến nay, NHCSXH tỉnh đã cho vay 131.450 lượt khách hàng vay vốn với tổng doanh số cho vay đạt 3.912,1 tỷ đồng, tổng doanh số thu nợ đạt 3.027,2 tỷ đồng (bằng 77,4% doanh số cho vay), xóa nợ 2,4 tỷ đồng.

Ước đến 31/12/2020, tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách đạt 3.350 tỷ đồng, tăng 1.130 tỷ đồng (+50,9%) so với 31/12/2015, với gần 105 nghìn hộ nghèo và các đối tượng chính sách dư nợ. Trong giai đoạn 2016-2020, tổng doanh số cho vay các chương trình tín dụng chính sách ước đạt 5.100 tỷ đồng; doanh số thu nợ ước đạt 3.880 tỷ đồng (bằng 76% doanh số cho vay).

Vốn tín dụng chính sách xã hội được đầu tư cho phát triển sản xuất, tạo sinh kế, tạo việc làm và đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong đời sống của người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Cụ thể:

(1) Chương trình tín dụng hộ nghèo: NHCSXH cho vay đối với hộ nghèo góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói, giảm nghèo và ổn định xã hội. Tiếp tục thực hiện chủ trương trên, 05 năm qua, NHCSXH đã giải ngân cho 12.786 lượt hộ nghèo, số tiền 538,4 tỷ đồng; doanh số thu nợ 615,7 tỷ đồng. Đến 31/3/2020, dư nợ 273,2 tỷ đồng, giảm 77,8 tỷ đồng so với 31/12/2015, với 6.139 hộ nghèo đang vay vốn, dư nợ bình quân 44,5 triệu đồng/hộ. Có thể nói, hiện nay NHCSXH đã đáp ứng tốt nguồn vốn cho vay đối với các hộ nghèo đủ điều kiện và có nhu cầu vay, từ nguồn vốn vay 05 năm qua đã có 10.179 hộ thoát khỏi ngưỡng nghèo góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh cuối năm 2019 xuống còn 1,53%, giảm 4,17% với đầu năm 2016.

(2) Chương trình tín dụng hộ cận nghèo: Được thực hiện từ năm 2013 theo Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg ngày 23/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với hộ cận nghèo nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ cận nghèo vay sản xuất kinh doanh, giúp hộ vay tăng thu nhập, cải thiện đời sống, giảm nguy cơ tái nghèo. Từ năm 2016 đến nay, NHCSXH tỉnh đã giải ngân cho 29.429 lượt hộ được vay vốn với số tiền 1.329 tỷ đồng; doanh số thu nợ 806 tỷ đồng. Dư nợ đến 31/3/2020 đạt 932,2 tỷ đồng, tăng 522,9 tỷ đồng so với 31/12/2015, với 19.984 hộ còn dư nợ, dư nợ bình quân 46,6 triệu đồng/hộ.

(3) Chương trình tín dụng hộ mới thoát nghèo: Ngày 21/7/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 28/2013/QĐ-TTg về tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo đã thể hiện sự quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc giảm nghèo bền vững. Chính sách này được cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp và nhân dân phấn khởi đón nhận, đáp ứng được nguyện vọng của cử tri cả nước; giúp cho các hộ mới thoát nghèo trong vòng 3 năm tiếp tục được vay vốn ưu đãi lãi suất thấp để phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập, vươn lên thoát nghèo bền vững. Trong giai đoạn 2016-2020 đã có 13.843 hộ được vay vốn, với số tiền 644,5 tỷ đồng, doanh số thu nợ 261,4 tỷ đồng. Đến 31/3/2020 dư nợ đạt 473,6 tỷ đồng, tăng 383,1 tỷ đồng so với 31/12/2015, với 9.969 hộ nghèo đang vay vốn, dư nợ bình quân 47,5 triệu đồng/hộ.

4) Chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Nguồn vốn này đã giúp các hộ gia đình được sử dụng nước sạch, công trình nhà tiêu hợp vệ sinh; góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, góp phần xây dựng nông thôn mới. Trong 05 năm qua, 66.280 hộ gia đình đã được vay vốn với số tiền 1.004,6 tỷ đồng, xây dựng mới và cải tạo 66.276 công trình nước sạch, 66.257 công trình vệ sinh; doanh số thu nợ 563,8 tỷ đồng. Dư nợ đến 31/3/2020 đạt 1.062,7 tỷ đồng, tăng 440,7 tỷ đồng so với 31/12/2015, với 72.376 hộ đang vay vốn.

(5) Chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm: Nguồn vốn tín dụng đã góp phần tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, mở rộng sản xuất, phát triển các ngành nghề, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa ở nông thôn. 05 năm qua, ngoài nguồn vốn của Trung ương, NHCSXH đã nhận nguồn vốn ủy thác từ ngân sách địa phương các cấp để cho vay tạo việc làm, giải ngân cho 4.860 khách hàng, số tiền 190,1 tỷ đồng, thu hút, tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm cho 5.683 lao động. Dư nợ đến 31/3/2020 đạt 118,4 tỷ đồng, tăng 45,3 tỷ đồng so với 31/12/2015, với 2.978 khách hàng còn dư nợ.

(6) Chương trình tín dụng học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn: Đây là chương trình tín dụng có ý nghĩa nhân văn sâu sắc cả về kinh tế, chính trị và xã hội, duy trì hỗ trợ cho học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo có điều kiện tiếp tục theo học, ảnh hưởng tích cực trong công tác giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Từ năm 2016 đến nay, NHCSXH tỉnh đã giải ngân cho 3.458 hộ được vay vốn với số tiền 170 tỷ đồng giúp cho 3.801 HSSV có điều kiện đến trường học tập, thực hiện đúng chủ trương của Chính phủ không để một HSSV nào vì khó khăn về tài chính phải bỏ học, doanh số thu nợ 618 tỷ đồng. Dư nợ đến 31/3/2020 đạt 190,5 tỷ đồng, giảm 448,2 tỷ đồng so với 31/12/2015, với 6.836 HSSV của 6.215 hộ gia đình.

 (7) Chương trình cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở: Thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở nhằm mục đích cùng với việc thực hiện các chính sách thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, Nhà nước trực tiếp hỗ trợ các hộ nghèo để có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xoá đói, giảm nghèo bền vững. Chương trình được thực hiện theo 02 giai đoạn: Giai đoạn 1 (theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg) được triển khai từ năm 2010 đến năm 2012, từ 2016 đến nay, chương trình được thực hiện theo Quyết định 33/2015/QĐ-TTg. Trên cơ sở danh sách các hộ nằm trong Đề án UBND tỉnh phê duyệt là 1.761 hộ và theo lộ trình thực hiện, NHCSXH tỉnh Nam Định đã đáp ứng nhu cầu vốn cho 100% các hộ đủ điều kiện và có nhu cầu vay vốn, giải ngân được 9,6 tỷ đồng cho 384 hộ làm nhà ở, doanh số thu nợ 8,3 tỷ đồng (theo Quyết định 167 là 8,1 tỷ đồng, theo Quyết định 33 là 0,2 tỷ đồng). Tổng dư nợ của chương trình đến 31/3/2020 là 28,9 tỷ đồng (theo Quyết định 167 là 19,5 tỷ đồng, theo Quyết định 33 là 9,4 tỷ đồng).

(8) Chương trình cho vay người lao động đi làm việc ở nước ngoài: NHCSXH được Chính phủ chỉ định dùng nguồn vốn của Chính phủ cho vay hộ gia đình chính sách, hộ có công với cách mạng có lao động cần tiền để chi phí đi lao động có thời hạn ở nước ngoài nhằm nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, tác phong nghề nghiệp cho người lao động, tăng thu nhập, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước; có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết lao động dôi dư; tạo cơ hội cho người lao động có nguồn thu nhập chính đáng, tích lũy được nguồn vốn khởi nghiệp ban đầu khi về nước để đầu tư phát triển SXKD, kinh tế hộ bền vững, cải thiện mức sống, vươn lên thoát nghèo tiến tới làm giàu, nhất là đối với khu vực nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên, trong những năm qua nhu cầu vay vốn đối với chương trình này trên địa bàn tỉnh không nhiều, từ 2016 đến nay NHCSXH tỉnh chỉ giải ngân được 4 lao động với số tiền 300 triệu đồng. Dư nợ đến 31/3/2020 là 301 triệu đồng, với 12 lao động còn dư nợ.

(9) Chương trình cho vay nhà ở xã hội: Chương trình được triển khai thực hiện từ năm 2018, đến nay đã giải ngân cho 61 hộ gia đình có thu nhập thấp, xây dựng mới và cải tạo nhà để ở, góp phần nâng cao đời sống sinh hoạt cho người dân, đảm bảo an sinh xã hội. Dư nợ đến 31/3/2020 đạt 22,4 tỷ đồng, với hơn 60 hộ còn dư nợ.

c) Chất lượng tín dụng chính sách

Với sự quan tâm, chỉ đạo của UBND tỉnh, Ban đại diện HĐQT NHCSXH tỉnh về nâng cao chất lượng tín dụng trong giai đoạn 2016-2020; Cùng với việc tăng trưởng dư nợ và mở rộng quy mô tín dụng, NHCSXH tỉnh tập trung triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng, tích cực thu hồi nợ đến hạn, hạn chế tối đa nợ quá hạn phát sinh, nâng cao chất lượng khi cho vay và quản lý chặt chẽ nợ, chỉ đạo các phòng giao dịch chủ động phân tích, đánh giá từng món nợ quá hạn, phối hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức CT-XH nhận ủy thác tích cực đôn đốc thu hồi; đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao ý thức trả nợ, trả lãi đúng kỳ hạn cho hộ vay do vậy chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao, tỷ lệ quá hạn giảm qua từng năm.

Đến 31/3/2020, toàn tỉnh có 119 xã không có nợ quá hạn, chiếm 53% tổng số xã; đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng của các xã có 210 xã xếp loại tốt, 12 xã xếp loại khá, 1 xã xếp loại trung bình, 3 xã xếp loại yếu. Mạng lưới tổ thường xuyên được củng cố, các tổ TK&VV có số tổ viên thấp được sáp nhập, các tổ yếu kém được kiện toàn lại đã nâng cao năng lực hoạt động cho mạng lưới tổ TK&VV với tỷ lệ tổ xếp loại khá, tốt thường xuyên chiếm trên 98% tổng số tổ. Tổng Nợ quá hạn các chương trình tín dụng 3.175 triệu đồng, chiếm 0,1% dư nợ, so với 31/12/2015 giảm 756 triệu đồng, tỷ lệ giảm 0,08%; nợ khoanh 71 triệu đồng, 0,002% tổng dư nợ, so với 31/12/2015 giảm 733 triệu đồng, tỷ lệ giảm 0,034%. Điều này thể hiện hiệu quả sử dụng vốn của hộ vay, sự nỗ lực của NHCSXH, tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác, Tổ TK&VV, sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc triển khai thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội.

Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho các đối tượng vay vốn gặp rủi ro do thiên tai, dịch bệnh... khắc phục khó khăn, tiếp tục có vốn để sản xuất, NHCSXH đã thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương, TCCTXH nhận ủy thác thực hiện tốt công tác xử lý nợ bị rủi ro do nguyên nhân khách quan, đảm bảo việc xử lý nợ bị rủi ro chính xác, kịp thời, đồng thời bổ sung nguồn vốn tạo điều kiện để người vay tiếp tục đầu tư khôi phục sản xuất. Cụ thể, từ năm 2016 đến 31/3/2020 NHCSXH đã khoanh nợ cho 8 món vay, với số tiền 290 triệu đồng. Xóa nợ cho 263 món vay, với số tiền 3.047 triệu đồng đồng, trong đó: số tiền gốc 2.426 triệu đồng, số tiền lãi 621 triệu đồng.

d) Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng chính sách xã hội

Công tác kiểm tra giám sát hoạt động tín dụng chính sách trong thời gian qua luôn được Ban đại diện HĐQT các cấp, Hội đoàn thể nhận ủy thác và NHCSXH quan tâm thực hiện đã và đang phát huy hiệu lực, hiệu quả góp phần tích cực trong việc nâng cao năng lực chỉ đạo điều hành, phát huy tính chủ động trong công tác phòng ngừa sai phạm và kịp thời xử lý các tồn tại, hạn chế trong hoạt động tín dụng chính sách xã hội. Cụ thể:

- Kiểm tra của Ban đại diện HĐQT: Hàng năm, Ban đại diện HĐQT NHCSXH tỉnh, các huyện, thành phố đều xây dựng và phân công các thành viên thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát theo địa bàn. Bên cạnh đó, Chủ tịch UBND cấp xã kiêm thành viên Ban đại diện HĐQT NHCSXH huyện hàng quý đều thực hiện kiểm tra ít nhất 01 thôn, một số Tổ TK&VV và một số hộ vay, đặc biệt Tổ TK&VV có chất lượng hoạt động chưa tốt. Nội dung kiểm tra giám sát của BĐD HĐQT đã tập trung đánh giá việc thực hiện Nghị quyết của cấp trên, vai trò, trách nhiệm của BĐD cấp dưới. Kiểm tra UBND các cấp chỉ đạo triển khai tín dụng chính sách trên địa bàn, trong việc thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư TW; nắm bắt kịp thời nhu cầu nguyện vọng, ý kiến đề xuất, kiến nghị của người dân; những khó khăn vướng mắc trong hoạt động nghiệp vụ của NHCSXH; từ đó thúc đẩy sự quan tâm, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương các cấp và sự phối kết hợp giữa NHCSXH với các ban, ngành, các tổ chức Hội, đoàn thể nhận ủy thác trong việc thực hiện tín dụng chính sách tại địa phương. Thông qua công tác kiểm tra, giám sát đã kịp thời phát hiện những tồn tại, sai sót; có biện pháp tháo gỡ vướng mắc, khó khăn; đề xuất kiến nghị với các cấp, các ngành chức năng để xử lý, chỉnh sửa, bổ sung chính sách phù hợp với thực tế tại địa phương.

- Đối với NHCSXH: Hàng năm, công tác kiểm tra, kiểm sát nội bộ trong hoạt động cho vay tại NHCSXH luôn là nhiệm vụ thường xuyên, được coi là biện pháp nhằm bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng chính sách xã hội. Qua kiểm tra đã kịp thời ban hành các văn bản chấn chỉnh, khắc phục các tồn tại hạn chế; vì vậy việc triển khai các chủ trương, chính sách tín dụng thời gian qua thực hiện kịp thời, đúng quy định; đảm bảo an toàn tài sản cho Nhà nước, đảm bảo quyền lợi của đối tượng thụ hưởng.

- Kiểm tra, giám sát của Hội đoàn thể nhận ủy thác: được thực hiện chặt chẽ từ khâu bình xét cho vay tại tổ TK&VV, phương thức giải ngân trực tiếp đến từng người vay vốn đều có sự chứng kiến của các tổ chức chính trị - xã hội nhận uỷ thác và chính quyền cơ sở, kiểm tra việc sử dụng vốn của hộ vay trong vòng 30 ngày sau khi nhận tiền vay nên nguồn vốn tín dụng chính sách của Nhà nước luôn được đảm bảo đến tận tay người thụ hưởng một cách nhanh chóng, vốn được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả. Bên cạnh đó, hàng năm, Hội đoàn thể nhận ủy thác các cấp xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội cấp dưới và tổ TK&VV, hộ vay vốn. Qua kiểm tra đã kịp thời chấn chỉnh, khắc phục các tồn tại, hạn chế và đề ra các giải pháp thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.

Ngoài ra, các Đoàn kiểm tra, giám sát của Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, NHCSXH Việt Nam, Đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân và Đoàn Đại biểu quốc hội, Sở Lao động TB-XH, Sở Nông nghiệp và PTNT… thực hiện kiểm tra  đánh giá cao về chất lượng hoạt động tại đơn vị, đồng thời ghi nhận các chương trình tín dụng chính sách được triển khai hiệu quả, góp phần tích cực vào thực hiện giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới tại địa phương NHCSXH quản lý tài chính, chi tiêu tiết kiệm, đúng chế độ, chính sách.

đ) Công tác truyền thông về hoạt động tín dụng chính sách xã hội

Công tác thông tin tuyên truyền về hoạt động tín dụng chính sách luôn được đẩy mạnh dưới nhiều hình thức đến các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân đã giúp người dân và các cấp, các ngành nắm bắt kịp thời chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tín dụng chính sách xã hội. NHCSXH đã phối hợp tốt với các cơ quan truyền thông báo, đài phát thành truyền hình thực hiện các tin, bài, phóng sự về hoạt động tín dụng chính sách; tham mưu UBND tỉnh đưa thông tin về hoạt động tín dụng chính sách trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, huyện. Tiếp tục phối hợp với Hội đoàn thể nhận ủy thác kết hợp tuyên truyền trong hoạt động của Hội, tổ chức Hội thi nghiệp vụ tín dụng giỏi tỉnh, thi tìm hiểu về Chỉ thị 40-CT/TW ... nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tăng cường sự hiểu biết, gắn kết, động viên, biểu dương cán bộ, viên chức, người lao động NHCSXH và cán bộ tổ chức CT-XH nhận ủy thác; thành lập Tổ thông tin tuyên truyền trải rộng từ Hội sở tỉnh đến các đơn vị cấp huyện, hàng năm xây dựng kế hoạch truyền thông và phân công nhiệm vụ, giao chỉ tiêu cho từng đơn vị, từng cá nhân cụ thể để tổ chức triển khai thực hiện.

Bên cạnh đó, các đơn vị còn thường xuyên tuyên truyền trên đài phát thanh của các xã, phường, thị trấn, trong các cuộc họp, hội nghị hoặc tại các buổi phát tiền vay, các buổi sinh hoạt tổ, soạn tờ rơi gửi đến khách hàng, niêm yết tại Điểm giao dịch xã; từ đó, người dân và các hộ vay vốn hiểu hơn về NHCSXH, có ý thức, trách nhiệm hơn đối với khoản vay của mình và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi vay vốn; sử dụng vốn đúng mục đích, nhiều hộ vươn lên thoát nghèo bền vững và nhiều mô hình làm ăn hiệu quả được nhân rộng.

e) Việc lồng ghép, phối hợp giữa tín dụng ưu đãi của nhà nước với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

  Hiện nay, khu vực nông thôn đã có nhiều chuyển biến rõ nét trong đời sống người dân, đặc biệt người nghèo. Có được kết quả đó, những năm qua Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm, có nhiều chính sách ưu đãi trong lĩnh vực tín dụng chính sách xã hội cho khu vực này; những chủ trương, chính sách đã về tận các thôn, xóm, gắn bó với người dân nghèo trong phát triển kinh tế. Tín dụng chính sách thông qua việc cấp tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác đã góp phần khai thác tiềm năng đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên; tạo điều kiện phát triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho người nghèo lao động ở nông thôn. Việc triển khai chính sách này là mối liên kết tốt giữa Nhà nước thông qua NHCSXH với các Hội đoàn thể và người nghèo, là một giải pháp hữu hiệu giảm nghèo hiệu quả và bền vững.

Thực tế trong xây dựng nông thôn mới ở Nam Định, mỗi địa phương luôn chủ động sáng tạo để khai thác tiềm năng, lợi thế đặc thù để về đích. Cùng với việc được tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính sách, người nghèo và các đối tượng chính sách khác có điều kiện tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, từ đó các mô hình sản xuất kinh doanh tiêu biểu tại các địa phương được hình thành như: Mô hình nuôi cá bống bớp với diện tích 370 ha, mô hình chuỗi liên kết sản xuất tiêu thụ cây dược liệu của Công ty Hoa Thiên Phú với diện tích 27,5 ha, các chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ nông sản của Công ty TNHH Cường Tân với quy mô 350 ha. Đến nay, toàn tỉnh xây dựng được 151 cánh đồng lớn ổn định để sản xuất hàng hóa tập trung với tổng diện tích 11.000 ha, trong đó 68 cánh đồng liên kết chuỗi giá trị với diện tích trên 800 ha; 313 trang trại chăn nuôi Nuôi trồng thủy sản chuyển dịch sang nuôi thâm canh áp dụng quy trình VietGap, hình thành các vùng nuôi tập trung, với tổng diện tích nuôi đạt 16.150 ha…Đặc biệt góp phần thúc đẩy phát triển sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị (chương trình OCOP).

Với những kết quả đạt được trên, tín dụng chính sách đã góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn, tạo ra bộ mặt mới trong đời sống kinh tế về tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và Nam Định được Trung ương đánh giá là một trong các địa phương dẫn đầu cả nước trong xây dựng nông thôn mới.

III. TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TRONG THỰC HIỆN MỤC TIÊU GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

1. Tác động về kinh tế - xã hội

- Việc cho vay các chương trình tín dụng ưu đãi đã bám sát các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội tại địa phương, phù hợp với sự phát triển của từng vùng, miền; nguồn vốn tín dụng ưu đãi do NHCSXH cho vay đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách đã mang lại hiệu quả thiết thực; góp phần thúc đẩy đáng kể vào việc hoàn thành tiêu chí xây dựng nông thôn mới của các xã đăng ký về đích qua các năm trên toàn tỉnh, từ đó góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp hoàn thành thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội.

- Từ việc triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng đã huy động được nhiều nguồn lực tài chính để cho vay đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác có nguồn vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, làm kinh tế hộ, nguồn vốn cho vay chủ yếu tập trung vào các ngành nghề trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, giúp cho họ ổn định sản xuất, tăng sản phẩm, tăng thu nhập, thay đổi cách thức sản xuất kinh doanh, từng bước ổn định cuộc sống; hỗ trợ được các nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt và cải thiện đời sống. Trong 05 năm qua, từ nguồn vốn tín dụng chính sách đã có 131.450 hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn để đầu tư vào sản suất, kinh doanh, tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống, giúp họ làm giàu trên chính quê hương mình.

2. Ổn định hệ thống chính trị tại cơ sở

Tín dụng chính sách xã hội do NHCSXH thực hiện trong những năm qua đã góp phần quan trọng thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đã đề ra. Mô hình hoạt động đặc thù của NHCSXH đã huy động được sức mạnh của hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành để thực hiện có hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi đảm bảo được tính công khai, dân chủ, minh bạch trong hoạt động, trong việc quản lý, giám sát, sử dụng nguồn vốn Nhà nước; gắn trách nhiệm, nhiệm vụ của các cấp, các ngành liên quan trong công tác giảm nghèo bền vững, ổn định xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế tại địa phương. Nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội giúp nhân dân bám đất, bám làng; đồng thời, giúp chính quyền cơ sở hoạch định, định hướng phát triển kinh tế cho địa phương, có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với người dân, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc của người dân, góp phần giữ vững ổn định an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại cơ sở.

Với phương thức cho vay chủ yếu ủy thác thông qua tổ chức chính trị – xã hội (chiếm 99,8%), Hi đoàn thể nhận ủy thác, đặc biệt là ở cơ sở có điều kiện tập hợp củng cố, phát triển đoàn viên, hội viên; gắn kết cộng đồng dân cư thông qua hoạt động của các Tổ TK&VV. Công tác tuyên truyền, vận động cũng hiệu quả hơn, hoạt động đoàn, hội đã thu hút nhiều hơn sự quan tâm của người dân. Công tác phối hợp với NHCSXH trong việc triển khai các chương trình tín dụng chính sách đã đi vào chiều sâu, chất lượng ủy thác, ủy nhiệm và chất lượng tín dụng được củng cố và nâng cao hơn; hiệu quả sử dụng vốn, thu nhập của đoàn viên, hội viên và các đối tượng thụ hưởng được nâng dần qua từng năm,...góp phần củng cố vững chắc hệ thống chính trị, tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội phát huy vai trò trong công tác giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo an sinh xã hội, ngăn chặn, đẩy lùi tín dụng đen.

3. Góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh

Kết quả thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội trong những năm qua đã khẳng định tín dụng chính sách là một giải pháp hữu hiệu góp phần thực hiện thành công các mục tiêu lớn của Đảng và Nhà nước như giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới. Với việc triển khai đến 100% thôn, xóm, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh, nguồn vốn tín dụng chính sách đã góp phần không nhỏ trong ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là tại các vùng nông thôn, đã đẩy lùi nạn tín dụng đen thông qua việc thực hiện các chương trình tín dụng chính sách ưu đãi tạo được lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; không bị các thế lực thù địch lôi kéo, lợi dụng. Bên cạnh đó, hộ nghèo và các đối tượng chính sách được tiếp cận nguồn vốn của Chính phủ để thực tập làm ăn, tạo việc làm, từng bước nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh, làm giàu trên chính quê hương mình, góp phần giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội.

Với những đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế của tỉnh trong những năm qua, đặc biệt tại các khu vực nông thôn, tín dụng chính sách xã hội đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong đời sống của nhân dân, nhất là đời sống của người nghèo và các đối tượng chính sách. Nhân dân đã tích cực phối hợp với chính quyền địa phương và các ngành chức năng từng bước xây dựng và củng cố vững chắc thế trận an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân; kết hợp có hiệu quả công tác an ninh, quốc phòng, đối ngoại với phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm về an ninh trật tự; đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và các hoạt động chống phá của thế lực thù địch.

4. Thực hiện giảm nghèo và an sinh xã hội:

Thực tiễn những năm qua, tín dụng chính sách xã hội đã góp phần quan trọng giúp hàng ngàn hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh Nam Định có nguồn vốn để sản xuất, kinh doanh hiệu quả, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Nhiều hộ đã vươn lên thoát nghèo, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là mục tiêu giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới, ổn định an ninh, xã hội trên địa bàn. NHCSXH đã thực sự khẳng định được vai trò quan trọng trong công cuộc giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, là địa chỉ tin cậy cung cấp tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Từ nguồn vốn vay NHCSXH, trong 05 năm qua đã có 12.786 lượt hộ nghèo, 29.429 lượt hộ cận nghèo, 13.843 hộ mới thoát nghèo và 75.329 các đối tượng chính sách khác được vay vốn, góp phần giúp 10.179 hộ thoát nghèo, 9.255 hộ thoát cận nghèo; giải quyết việc làm cho 5.683 lao động. Qua đó góp phần thực hiện các tiêu chí về giảm nghèo trong xây dựng nông thôn mới. Cụ thể: Tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm cả về số lượng và tỷ lệ (đầu năm 2016 số hộ nghèo là 33.864 hộ, tỷ lệ 5,7% đến cuối năm 2019 số hộ nghèo còn 9.943 hộ, tỷ lệ 1,53%).

Bên cạnh đó, tín dụng chính sách còn thực hiện đầu tư xây dựng chương trình phúc lợi, nhà ở: NHCSXH thực hiện cấp tín dụng thông qua chương trình cho vay hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định số 167/QĐ-TTg và Quyết định số 33/QĐ-TTg, cho vay nhà ở xã hội theo Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ đưa nguồn vốn với lãi suất ưu đãi giúp hộ nghèo, hộ thu nhập thấp xây dựng nhà ở. Trong 05 năm qua đã có 384 căn nhà cho hộ nghèo và 61căn nhà cho người có thu nhập thấp được xây dựng từ nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội, đóng góp tích cực vào việc giải quyết vấn đề an sinh xã hội.

5. Góp phần thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới

Thực hiện Công văn số 52/KH-UBND ngày 09/6/2016 của UBND tỉnh về Kế hoạch xây dựng nông thôn mới tỉnh giai đoạn 2016-2020; Trưởng BĐD HĐQT NHCSXH cấp tỉnh, cấp huyện đã chỉ đạo ưu tiên phân bổ nguồn vốn cho các xã xây dựng nông thôn mới. Riêng đối với các xã đăng ký về đích qua các năm NHCSXH chỉ đạo các Phòng giao dịch NHCSXH cấp huyện rà soát nhu cầu vốn tất cả các chương trình tín dụng chính sách để cho vay đủ theo nhu cầu đã góp phần giúp các địa phương sớm hoàn thành các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới như tiêu chí về Hộ nghèo, Thu nhập, Lao động có việc làm, Tổ chức sản xuất, Giáo dục và đào tạo, Môi trường, Nhà ở dân cư... Đến 31/3/2020, tổng dư nợ cho vay các chương trình tín dụng chính sách tại 209 xã xây dựng nông thôn mới là 3.062,3 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 98,7%/tổng dư nợ của NHCSXH, với 101.139 khách hàng còn dư nợ. Việc thực hiện cho vay các chương trình tín dụng chính sách cùng với các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao khoa học kỹ thuật về cây trồng, vật nuôi, góp phần tích cực tham gia chương trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương đưa Nam Định trở thành một trong hai tỉnh đầu tiên hoàn thành xây dựng mới vào năm 2019.

IV. MỘT SỐ KHÓ KHĂN, TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Một số khó khăn, vướng mắc

Trong thời gian qua, hoạt động tín dụng chính sách xã hội luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương và sự triển khai có hiệu quả của các cấp, các ngành liên quan, các tổ chức chính trị - xã hội, tuy nhiên quá trình hoạt động cũng còn một số khó khăn, hạn chế như:

- Nguồn vốn để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách còn hạn chế so với nhu cầu thực tế của người nghèo và các đối tượng chính sách, nhất là nguồn vốn cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm. Tăng trưởng tín dụng hàng năm chủ yếu từ nguồn vốn của Trung ương, nguồn vốn địa phương ủy thác sang NHCSXH tỉnh còn thấp (chỉ chiếm 0,9% tổng nguồn vốn).

- Trước tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, tai nạn, ốm đau và các nguyên nhân khách quan bất khả kháng khác dẫn đến tiềm ẩn nhiều nguy cơ tái nghèo. Tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo được áp dụng cho các hộ gia đình ra khỏi danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trong vòng 3 năm chưa đủ đảm bảo thời gian để các hộ gia đình có điều kiện thoát nghèo bền vững.

- Mức cho vay chương trình NS&VSMTNT hiện nay tối đa là 10 triệu đồng/công trình, chưa phù hợp với giá cả nguyên vật liệu, nhân công ngày càng cao, chưa đáp ứng chi phí cần thiết để hộ dân xây dựng công trình đảm bảo quy mô, chất lượng; nhất là các công trình xây dựng chuồng trại gia súc, xử lý nước thải, rác thải khu vực làng nghề nông thôn. Đối tượng vay chưa bao gồm hộ gia đình, đặc biệt là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thu nhập trung bình cư trú tại khu vực đô thị như thị trấn, hoặc các nhà đầu tư xây dựng công trình đầu mối cấp nước sạch, xử lý môi trường tập trung trên địa bàn nông thôn.

- Chất lượng tín dụng một số nơi còn thấp, nợ quá hạn cao, chuyển biến chậm. Một số hộ sau khi vay vốn bỏ đi khỏi địa phương không xác định được thông tin hoặc địa chỉ, gây khó khăn trong công tác thu hồi, xử lý nợ.

- Một số nơi, công tác phối hợp hướng dẫn, hỗ trợ người dân trong việc sử dụng vốn của các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội còn hạn chế dẫn đến một bộ phận người nghèo sử dụng vốn vay chưa hiệu quả, chưa thoát nghèo bền vững.

2. Nguyên nhân:

- Do nguồn ngân sách của tỉnh, các huyện và thành phố còn hạn chế, nguồn thu thấp, chi ngân sách cơ bản vẫn phải cấp bù của TW, là một trong những tỉnh TW phải cấp bù ngân sách và trong những năm qua toàn tỉnh tập trung hoàn thành xây dựng nông thôn mới và hỗ trợ cho người dân bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh nên việc chuyển nguồn sang ủy thác cho NHCSXH còn hạn chế.

- Một bộ phận người vay, nhất là hộ nghèo, có trình độ và năng lực sản xuất, kinh doanh hạn chế, thường xuyên chịu tác động của thời tiết, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh....dẫn đến sản xuất, kinh doanh chưa hiệu quả, khó có khả năng trả nợ ngân hàng, phát sinh nợ quá hạn, nguy cơ tái nghèo.

- Một số địa phương cơ sở chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động tín dụng chính sách xã hội, quản lý nguồn vốn, chưa thực sự vào cuộc cùng NHCSXH để giải quyết những tồn tại trong hoạt động tín dụng chính sách trên địa bàn. Một số Hội nhận ủy thác cấp xã, Ban quản lý TTK&VV chưa thực hiện tốt các nội dung ủy thác, chưa tích cực, sâu sát cơ sở, kiêm nhiệm nhiều việc khác nhau ở địa phương nên trách nhiệm chưa cao.

- Thiếu sự phối hợp chỉ đạo của các ngành, các cấp trong việc lồng ghép các chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các hoạt động chuyển giao công nghệ, huấn luyện, đào tạo nghề, tiêu thụ sản phẩm với hoạt động tín dụng chính sách để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay.

V. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN 2021-2025

1. Định hướng và mục tiêu hoạt động

- Tín dụng chính sách xã hội tiếp tục được khẳng định là công cụ kinh tế hữu hiệu của Nhà nước trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều nhanh, bền vững; góp phần tích cực thực hiện thành công các Chương trình mục tiêu quốc gia về: giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

- Hoạt động tín dụng chính sách xã hội phát triển theo hướng ổn định, bền vững, tạo điều kiện hỗ trợ tốt nhất cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách. Đảm bảo 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu, đủ điều kiện vay vốn đều được vay vốn các chương trình tín dụng và tiếp cận các dịch vụ do NHCSXH cung cấp. Dư nợ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt khoảng 10%. Tỷ lệ nợ quá hạn dưới 0,1% tổng dư nợ.

2. Một số giải pháp trọng tâm

- Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách xã hội và Quyết định số 401/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Nâng cao vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp và của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện tín dụng chính sách xã hội; tăng cường bổ sung nguồn vốn địa phương để ủy thác cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn.

- Tiếp tục làm tốt phương thức quản lý vốn tín dụng chính sách đặc thù và hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn và cấu trúc hệ thống chính trị. Mô hình này đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

- Tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng chính sách xã hội. Trong đó, đặc biệt coi trọng chất lượng tín dụng, công tác ủy thác của các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác, chất lượng hoạt động của các Tổ TK&VV, hoạt động tại Điểm giao dịch tại xã, thực hiện công khai về các thông tin, các chủ trương chính sách liên quan đến hoạt động tín dụng chính sách tại Điểm giao dịch xã nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác tiếp cận nguồn vốn các chương trình tín dụng chính sách, đồng thời phát huy vai trò giám sát của cộng đồng trong việc tổ chức thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước trên địa bàn.

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả nguồn nhân lực để thực hiện tín dụng chính sách xã hội. Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao trình độ, năng lực đối với đội ngũ cán bộ của NHCSXH, các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác và Ban quản lý Tổ TK&VV. Nâng cao nhận thức của người dân trong việc sử dụng nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội đầu tư có hiệu quả và trách nhiệm trong việc hoàn trả vốn vay.

- NHCSXH thường xuyên báo cáo, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương về hoạt động tín dụng chính sách xã hội. Tổ chức triển khai kịp thời, đúng quy định các chương trình tín dụng mới được ban hành.

- Phối hợp hiệu quả giữa các hoạt động khuyến công, khuyến nông,  khuyến lâm, khuyến ngư, hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, tiêu thụ sản phẩm của các tổ chức Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp và các tổ chức chính  trị - xã hội với hoạt động tín dụng chính sách.

- Thực hiện tốt công tác truyền thông về tín dụng chính sách, đặc biệt những chính sách tín dụng mới đến các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân biết để thực hiện và giám sát thực hiện trên địa bàn; tranh thủ khai thác các nguồn lực, nguồn tài trợ kỹ thuật của các tổ chức để bổ sung nguồn vốn cho vay và đào tạo, nâng cao năng lực quản trị cho cán bộ NHCSXH, cán bộ tổ chức chính trị - xã hội nhận dịch vụ ủy thác, Ban quản lý Tổ TK&VV.

V. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

Để tiếp tục phát huy tốt hiệu quả của tín dụng chính sách xã hội góp phần tích cực thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định kiến nghị một số nội dung như sau:

1. Đề nghị Chính phủ và các Bộ ngành:

- Tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư và Quyết định 401/QĐ-TTg ngày 14/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Cân đối, bố trí đủ nguồn lực để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách.

- Cho phép tiếp tục thực hiện Chương trình tín dụng cho vay hộ mới thoát nghèo và Chương trình tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn khi hết thời hạn quy định (31/12/2020).

- Xem xét, nâng mức cho vay và thời hạn cho vay tối đa đối với một số chương trình tín dụng:

+ Nâng thời hạn cho vay tối đa đối với hộ mới thoát nghèo lên 10 năm;

+ Nâng mức cho vay tối đa chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn từ 10 triệu đồng lên 20 triệu đồng/công trình;

- Mở rộng đối tượng vay vốn: Cho phép kéo dài thời gian hộ gia đình được thụ hưởng chính sách tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo kể từ khi ra khỏi danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo lên 5 năm, đồng thời bổ sung đối tượng có thu nhập và hoàn cảnh tương đồng như Hộ mới thoát nghèo nhưng trước đây chưa nằm trong danh sách điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo; chương trình tín dụng học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đối với hộ có mức sống trung bình; chương trình tín dụng đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài là thành viên thuộc hộ mới thoát nghèo; chương trình tín dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đối với các hộ thuộc các phường, thị trấn ven thành thị chưa có công trình nước sạch và vệ sinh.

2. Đề nghị NHCSXH Việt Nam

- Tăng cường nguồn vốn cho vay các chương trình tín dụng, đặc biệt là nguồn vốn giải quyết việc làm, cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

- Đề nghị NHCSXH phân bổ nguồn vốn cho vay tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm từ nguồn Chi nhánh huy động.