Đề cương tuyên truyền sửa đổi Hiến pháp năm 1992
15:10' 19/2/2013

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng “Khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001) phù hợp với tình hình mới” và Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Chỉ thị số 22- CT/TW ngày 28/12/2012 của Bộ Chính trị, việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.





1. Sự cần thiết và m
ục đích, yêu cầu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992

1.1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992

Hiến pháp năm 1992 là Hiến pháp của thời kỳ đầu đổi mới đất nước. Đến nay, đất nước ta đã có nhiều thay đổi trong bối cảnh quốc tế đang có những diễn biến to lớn, phức tạp và sâu sắc. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI của Đảng, trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và lý luận 25 năm đổi mới, đã xác định rõ mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới nhằm xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vì vậy, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 cho phù hợp với tình hình mới là rất cần thiết.

1.2. Mục đích và yêu cầu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992  

Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 phải đạt được mục đích và yêu cầu chính sau đây:

Thứ nhất, thể chế hóa kịp thời đường lối, các chủ trương, chính sách lớn của Đảng được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện khác của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng về đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, về bảo vệ Tổ quốc, về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp phải bám sát vào các nội dung của Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), các nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI và các văn kiện khác của Đảng.

Thứ hai, để ghi nhận những thành quả cách mạng và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 25 năm đổi mới đất nước của nhân dân ta, do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phấn đấu xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 

Thứ ba, thể hiện lại một số nội dung và kỹ thuật trình bày, bảo đảm các quy định của Hiến pháp đúng tầm là đạo luật cơ bản, có tính ổn định lâu dài. Nói chung Hiến pháp chỉ quy định các vấn đề lớn, còn các vấn đề cụ thể nên để luật quy định.

2. Quan điểm sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992

Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 được tiến hành dựa trên các quan điểm sau đây:

2.1. Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 phải dựa trên cơ sở tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và các đạo luật có liên quan; phải căn cứ vào định hướng, nội dung của Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện khác của Đảng; tiếp tục kế thừa những quy định của Hiến pháp năm 1992 và của các bản Hiến pháp trước đây còn phù hợp; sửa đổi, bổ sung những vấn đề thực sự cần thiết, phù hợp với tình hình mới với những nội dung đã được văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định.

2.2. Tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình tổng thể của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 1992. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

2.3. Khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

2.4. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2.5. Tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân; thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; tăng cường kỷ luật, kỷ cương; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

2.6. Sửa đổi Hiến pháp là công việc hệ trọng nên phải tiến hành chặt chẽ, khoa học dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bảo đảm sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý; tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân và các cơ quan, tổ chức; chú trọng công tác thông tin, tuyên truyền, bảo đảm đúng định hướng, không để các đối tượng xấu, thế lực thù địch lợi dụng để chống phá, xuyên tạc trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp.  

3. Một số định hướng lớn sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992

Căn cứ vào các văn kiện của Đảng và tình hình thực tiễn của đất nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị một số định hướng lớn sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 như sau:  

3.1. Về chế độ chính trị

- Khẳng định sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội đã được nhân dân ta, mà đại diện cao nhất là Quốc hội thừa nhận và ghi vào Hiến pháp.  

- Khẳng định Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Theo đó, phải làm rõ cách thức sử dụng quyền lực nhà nước của nhân dân thông qua cơ chế dân chủ đại diện (cơ quan quyền lực nhà nước) và cơ chế dân chủ trực tiếp.

- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để mỗi cơ quan thực thi có hiệu lực chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật, với sự phối hợp chặt chẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp của quyền lực nhà nước. Theo đó, phải phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, cơ chế phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong Hiến pháp.

3.2. Về chế độ kinh tế

Sửa đổi, bổ sung các quy định bảo đảm mục tiêu, định hướng chính sách lớn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận quan trọng hợp thành của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân, kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Không quy định cụ thể các biện pháp, chính sách kinh tế trong Hiến pháp mà để quy định trong các luật. 

3.3. Về văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ

Sửa đổi theo hướng Hiến pháp chỉ quy định những chủ trương, chính sách lớn mang tính định hướng, ổn định lâu dài, thể hiện rõ đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, những chính sách lớn về giáo dục, khoa học và công nghệ, khẳng định phát triển giáo dục, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là phương tiện để phát triển đất nước, còn những vấn đề về biện pháp, các chính sách cụ thể để quy định trong các luật.

3.4. Về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Sửa đổi Hiến pháp để tiếp tục khẳng định mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân, Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.

Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

3.5. Về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân

Khẳng định Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong Hiến pháp, xác định rõ hơn phạm vi quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân phải có tính khả thi và ở tầm hiến định để phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển.

3.6. Về tổ chức bộ máy nhà nước

- Về Quốc hội: khẳng định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; thực hiện quyền giám sát tối cao; quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; xác định rõ hơn nội dung những vấn đề quan trọng của đất nước thuộc thẩm quyền của Quốc hội quyết định, trong đó có thẩm quyền quyết định về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước.

- Về Chủ tịch nước: xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của Chủ tịch nước trong việc thực hiện vị trí, vai trò là nguyên thủ quốc gia, thay mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại và thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân, xác định rõ hơn mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.  

Về Chính phủ: xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong việc xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, có hiệu lực, hiệu quả; quy định rõ hơn ở tầm hiến định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; quan hệ giữa Chính phủ với Quốc hội, với các cơ quan tư pháp.

- Về Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân: thực hiện phương hướng lấy Toà án làm trung tâm, tổ chức Toà án theo thẩm quyền xét xử không phụ thuộc vào đơn vị hành chính; làm rõ vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân; nghiên cứu để quy định trong Hiến pháp một số nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp.  

- Về cơ chế bảo vệ Hiến pháp: xây dựng và từng bước hoàn thiện cơ chế tăng cường kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phù hợp với thể chế chính trị và thực tiễn Việt Nam.

- Về chính quyền địa phương: sửa đổi, bổ sung các quy định về tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương theo hướng nghiên cứu xác định rõ hơn địa vị pháp lý của chính quyền địa phương, mô hình tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, cơ chế phân cấp, phân quyền giữa trung ương với địa phương. 

3.7. Về kỹ thuật trình bày các quy định của Hiến pháp  

Sau gần 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, đến nay nước ta đã có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ, đồng bộ, đồng thời khoa học pháp lý cũng có bước phát triển mới nên cần nghiên cứu, rà soát lại những vấn đề về kỹ thuật văn bản, câu chữ trong các điều của Hiến pháp năm 1992; đồng thời nghiên cứu, tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập hiến của một số nước trên thế giới về quy trình, cách thể hiện, kỹ thuật trình bày Hiến pháp để các quy định của Hiến pháp được thể hiện rõ ràng, được hiểu một cách thống nhất; bảo đảm các quy định của Hiến pháp đúng tầm là đạo luật cơ bản của Nhà nước, có tính ổn định lâu dài./. 
                                                                                          Theo Nguoidaibieunhandan
So sanh Hien phap 1992 va noi dung gop y sua doi.doc